Custom Search

BỒNG BỒNG-CÔNG DỤNG CÁCH DÙNG-CÂY THUỐC NAM

BỒNG BỒNG


Tên khác: Phất dũ sậy, Phất dũ lá hẹp, Phú quý, Bánh tét, Trường hoa long huyết dụ.
Tên khoa học: Dracaena angustifolia Roxb.; thuộc họ Bồng bồng (Dracaenaceae).
Tên đồng nghĩa: Pleomele angustifolia (Roxb.) N. E. Br.
Mô tả: Cây dạng thảo sống dai, cao 1-3m, mang lá ở ngọn; trên thân thường có vết sẹo của những lá đã rụng. Lá hẹp, ôm thân, không cuống, dài 20-35 cm, rộng 1,2-4cm, thon lại thành mũi ở đầu, có rạch theo các gân. Hoa hình ống, dài 20-25 cm, màu lam ở ngoài, trắng ở trong xếp nhóm 1-3 cái, thành chuỳ ở ngọn dài 40cm hay hơn, có nhánh trải ra, dài 10-20 cm. Quả dạng quả mọng, hình cầu, đường kính 10-15cm, tuỳ theo quả có 1 hay 2 hạt. Ra hoa tháng 2-4.
Bộ phận dùng: Rễ, lá và hoa (Radix, Folium et Flos Dracaenae).
Phân bố sinh thái: Loài phân bố từ Ấn Độ, nam Trung Quốc qua Việt Nam đến Malaisia. Cây mọc ở nhiều nơi của nước ta, từ Lào Cai đến Ninh Bình... cũng thường được trồng. Thu hái rễ vào mùa thu, cạo bỏ vỏ ngoài, nấu chín, thái nhỏ, phơi khô.
Thu hái: Hoa khi mới chớm nở, dùng tươi.
Tính vị, tác dụng: Rễ và hoa có tính giải nhiệt, giải độc.
Công dụng: Cụm hoa non ăn được. Rễ nghiền ra lẫn với các chất thơm khác, dùng làm hương thơm. Nước sắc lá dùng chữa lỵ, chữa bệnh bạch đới và bệnh lậu. Kinh nghiệm dân gian dùng rễ và hoa trị lỵ ra máu. Hoa sao vàng sắc đặc trị hen. Lá giã nát, vắt lấy nước để nhuộm xanh bánh đúc.

comment 0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Delete this element to display blogger navbar